Tri giác về không gian và ngộ giác

Tri giác là một quy trình tâm lý mang tính cá thể cao, nó giúp cho mỗi cá thể tổ chức và lý giải các hình thức phức tạp của kích thích qua các giác quan và tìm ra các ý nghĩa cần thiết để bắt đầu hành vi phản ứng.

Tri giác vì thế liên quan tới việc tổ chức các kích thích của môi trường thành một hình thái hay tổng thể có ý nghĩa theo một số nguyên tắc nhất định. Các nhà tâm lý đã tìm ra hơn 100 nguyên lý hay quy luật liên quan tới tố chức tri giác. Nguyên lý về mối quan hệ giũa nền và hình giải thích cho tri giác của hình trong mối quan hệ với nền. Nguyên lý khép kín miẽu tả xu hướng hoàn chỉnh hoặc khép kín đối với một hình thái không hoàn chỉnh. Nguyên lý nhóm hoá đề cập tới xu hướng cảm nhận các kích thích bằng việc thông qua việc nhóm các kích thích lại trên cơ sở đồng dạng, gần gũi và kế tiếp. Nguyên lý tinh giản giải thích sự cảm nhận các hình thái đơn giản nhất có thể có. Nguyên lý đường biên đòi hỏi mức độ chất lượng của đường biên nhằm tách rõ hình và nền. Nguyên lý khung cảnh đòi hỏi có sự thay đổi có ý nghĩa về khung cảnh trong đó các kích thích được cảm nhận xuất hiện. Nguyên lý đối lập nhấn mạnh cần chú ý tới tác dộng đối lập trong tổ chức tri giác và nguyên lý thích ứng giái thích chúng ta cần xây dựng mức thích ứng làm chuẩn để giúp chúng ta ước tính hoặc so sánh các kích thích. Hằng định tri giác đề cập tới xu hướng cảm nhận các kích thích là tương đối ổn định và không thay đổi (mặc dù có sự thay đổi về hình ảnh cảm giác). Hằng định có thể xẩy ra dưới nhiều dạng; hình dáng (hằng định hình dáng) kích cỡ (hằng định về kích cỡ) và màu sắc (hằng định về màu sắc).

Tri giác về không gian: bao gồm vấn đề không gian ba chiều đó là chiều cao, chiều rộng và chiều sâu hoặc khoảng cách. Trong tri giác bằng thị giác chúng ta có thể cảm nhận chiều sâu hoặc khoảng cách qua các khoá đơn nhãn (một mắt) và lưỡng nhãn (đòi hói cả hai mắt) các khoá đơn nhãn đối với chiều sâu hoặc khoảng cách bao gồm kích cỡ tương đối, giao thoa vị trí, viền cảnh trực tuyến, ánh sáng và bóng, cấu trúc đường dốc, độ bao quát cứa thị giác và chuyển động tương đối. Các khoá lưỡng nhãn gồm độ chênh lệch võng mạc và sự hội tụ.

Trong việc ước tính khoảng cách và chiều sâu của vật thể trong không gian, người ta dựa trên hệ thống giác quan như khứu giác, thính giác… ngoài các cảm giác về thị giác. Trong tri giác không gian thính giác, tri giác của khoảng cách được thực hiện chỉ bằng khoá đơn nhĩ (cần một tai): âm lượng cứa tiếng động và độ vang. Tuy nhiên trong tri giác về hướng nơi tiếng động phát ra, các khoá lưỡng nhĩ (đòi hỏi cả hai tai) như sự chênh lệch vể thời gian và sự chênh lệch về cường độ được yêu cầu.

Tri giác ngộ giác thể hiện sự phán đoán đại thể sai hoặc tri giác không thật về các thông tin cảm giác. Ngộ giác về kích cỡ tạo ra tri giác không thật về kích cỡ của vật thể. Điều này xảy ra do sự thay đổi về khung quy chiếu hoặc khung của nền. Ngộ giác về chiều dài giống như ví dụ nổi tiếng của Muller – Lyer, nó xuất hiện do sự giải thích các góc ớ cuối mỗi đường như là những khoá viễn cảnh. Ngộ giác về viễn cảnh như ví dụ nổi tiếng “Ponzo Illusion” được tạo ra nhờ những chốt viễn cảnh không thật. Ngộ giác về đường cong hình như là kết quả của chuyển động của mắt và xu hướng dự đoán quá mức góc vuông. Ngộ giác về đường ngang – dọc là do ảnh hướng của hình dáng của khung thị giác, thông thường đó là hình elíp ngang dẹt. Ngộ giác về chuyển động bao gồm tri giác của chuyển động của vật thể trong thực tế là những vật đứng yên. Loại ngộ giác chuyển động thứ hai sinh ra nhờ chuyển động quy nạp, do tri giác không thật về mối quan hệ giữa ảnh và nền. Một loại ngộ giác khác dựa trên chuyển động hoạt nghiệm – một loại nhìn như chuyển động chúng ta thường thấy trong phim ảnh và vô tuyến. Chuyển động hoạt nghiệm cũng là nguồn gốc của hiện tượng không thật gọi là hiện tượng phi, thí dụ: cảm nhận về một chuyển động rõ ràng trong các biểu hiện đèn nêon trên biển quảng cáo.