Tri giác không gian qua thính giác và tri giác về khoảng cách

Chênh lệch võng mạc:

Nếu chúng ta nhìn một vật thể đầu tiên bằng một mắt và sau đó với con mắt còn lại, chúng sẽ không thấy hai hình ảnh giống nhau. Sự khác biệt về hình ảnh cảm nhận này được gọi là sự chênh lệch võng mạc. Hai con mắt của chúng ta cách nhau gần 2,5 inch. Trong khi chúng ta nhìn bằng mắt trái, vật thể nhìn thấy hình như thiên về bên trái, nhưng với mắt phải, vật thê hình như lại thiên về bên phải. Tuy vậy, khi chúng ta nhìn bằng cả hai mắt, chúng ta cảm nhận một hình ảnh được quy tụ lại. Sự quy tụ xảy ra trong não bộ, tạo cho chúng ta một khoá quan trọng để cảm nhận khoảng cách hoặc chiều sâu, hoặc ‘không gian 3 chiều của vật thể.

Sự hội tụ:

Một khoá lưỡng nhãn quan trọng khác giúp cảm nhận khung cảnh và chiều sâu được tạo ra thông qua việc cơ mắt chế ngự sự hội tụ của mắt. Chúng ta để ý thấy khi ta nhìn một vật thể ở xa, đường nhìn của hai mắt chúng ta dường như song song. Khi vật thê được đưa lại gần (trong khoáng 40 – 50 food) cả hai mắt chúng ta dường như “chụp” vào vật thể nhằm tập trung nhìn vào nó. Trong trường hợp vật thể quá gần, hình ảnh trong hai mắt vẫn tách biệt bởi vì hai mắt không chịu hội tụ.

Hiện tượng hội tụ chịu sự chế ngựa của cơ mắt. Mức độ di chuyển của cơ mắt thay đổi theo mức độ hội tụ và sự biến đối này tạo nên cảm giác về sự chuyển động và là một thứ khoá giúp cảm nhận khoảng cách và chiều sâu của vật thê trong không gian.

tri giác không gian qua thính giác

Trong việc dự đoán khoảng cách và chiều sâu trong không gian đối với một vật thể, chúng ta không chi dựa vào thị giác. Các giác quan khác như khứu giác, và thính giác v.v… cũng đóng một vai trò quan trọng hàng đầu trong tri giác của khoảng cách, chiều sâu và phương hướng. Chính vì vậy những người khiếm thị phụ thuộc rất nhiều vào thính giác và họ có tri giác rất tốt về chiều sâu, phương hướng và khoáng cách. Họ có khá năng phán ứng rất chính xác với phương hướng và khoảng cách của tiếng động. Trong tri giác qua thính giác, giống như tri giác qua thị giác, chúng ta có hai loại khoá: khoá đơn nhĩ (yêu cầu một tai) và khoá lưỡng nhĩ (yêu cầu cả hai tai). Khi tri giác về khoáng cách, chỉ cần nghe một tai là đủ (đơn nhĩ), trong khi đó tri giác về phương hướng chúng ta phải cần cả hai tai (lưỡng nhĩ).

Tri giác về khoảng cách

Hai loại khoá đơn nhĩ quan trọng giúp cảm nhận khoáng cách là âm lượng và độ vang. Âm lượng của tiếng động tạo ra các chốt giúp cho việc phán đoán về khoáng cách của vật thế. Tiếng động lớn làm ta có cám nhận vật thế gần ngay cạnh trong khi đó tiếng động yếu và nhẹ có nghĩa là vật thế ớ khá xa ta. Cùng với mức âm lượng của tiếng động, các kinh nghiệm trước dây hoặc sự quen thuộc với nguồn tiếng động cũng giúp ta dự đoán khoảng cách từ nơi phát ra tiếng động một cách phù hợp. Trong các trường hợp khác như tiếng gầm rú của máy bay phản lực, tiếng réo của chuông điện thoại, tiếng sấm rền, tiếng còi tàu… chúng ta có thế hình dung mức âm lượng cần có tương ứng với khoảng cách và vì thế ta có thể dự đoán khoảng cách của ta tới nơi phát ra tiếng động. Với độ vang, chúng ta dự đoán khoảng cách tới chỗ vật thể, bằng cách phát ra một âm thanh và theo dõi thời gian cần có đế tiếng vang vọng lại. Hiện tượng này giống như cách phát hiện vật đang bay bằng rađa. Người khiếm thị vận dụng hiện tượng này đê dự đoán khoáng cách tới vật cản trên đường. Để làm việc này, họ thường đập đầu gậy của họ xuống mặt đường trong khi đi. Các loài vật như con rơi hay cá heo vận dụng hiện tượng này để xác định con mồi, tính khoảng cách và tránh các vật cán trên đường của chúng.