Trả lời tạp chí sách và đời sống

“Sau những năm dài mê mải, hôm nay nhìn lại, thấy nghê kiến trúc quả là một nghề nghiệp khắc nghiệt và khó khăn. Thiết kê kiến trúc thì luôn cẩn đến linh cảm, viết kiến trúc thì luôn luôn cần đến sự thăng hoa. Cả hai lĩnh vực này của kiến trúc, muốn ngưng đọng, kết tinh một cái gì đó, đều phải qua hai cái ngưỡng trên. Riêng với tôi, tôi cho rằng đó là một quá trình đãi cát tìm vàng”.

Đã vài lần đến thăm nhà, mỗi lần đều thấy có một chút đối khác trong cách bài trí. Lần này tới, lại thấy thay đổi. Không gian dường như vẫn thế, nhưng dường như đã khác đi. KTS. Đặng Thái Hoàng thích thú giới thiệu cái đèn đặt ớ góc tường khiến cho mặt tủ bếp vừa kín đáo lại vừa đủ sáng, hay chỉ là những mắc treo họp lý… Ông dẫn tôi đi tham quan khắp nhà. Khắp nơi, trên cầu thang, trên tường nhà, đâu đâu cũng thấy treo nhũng bức ảnh về các công trình kiến trúc lớn ớ mọi miền trên thế giới do ông chụp, nhũng bức tranh sơn dầu, sơn mài, khắc gổ, bột mầu, giấy dó… của nhiều hoạ sĩ, xen kẽ là những bức Thư pháp ông cất công mang về từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản sau những chuyến đi. Tôi hiểu, đó là không gian của Đặng Thái Hoàng. Chữa bệnh có y học, tăng chất lượng sông có khoa học, công nghệ, nhưng chữa chạy, làm lành vết thương tâm hồn thì phái là nghệ thuật, ông nói.

Tôi yêu cái đẹp, những gì thuộc về cái đẹp đích thực đều khiến tôi quan tâm. Một bức tranh đẹp không có nghĩa là bức tranh đó phải đắt tiên, hay bức tranh đố phải của một hoạ sĩ lớn, mà quan trọng nhất là bức tranh ấy đáp ứng đúng nhu cẩu tâm hồn của người sứ dụng nó. Vẽ tranh, chụp ảnh, chơi thư pháp… tất cả đểu cần đối với tôi. Với tôi, những thứ đó không tách khỏi nhau, chúng đều là nghệ thuật.

Còn sách thì sao thưa ông ?
Tôi nghĩ, chơi sách và sưu tầm sách đều là những thú chơi thanh cao. sang trọng. Tốt nhất, người có sách phái đọc. phái tìm cách đê truyền tải những cái mình đã tiếp nhận được dưới một hình thức nào đó cho người khác.

Tôi đã từng nhìn thấy có người bỏ tiền mua cả một bộ sách kinh điển hàng triệu đồng chỉ để bày vào tủ sách, có người thì có sở thích là sưu tầm các loại sách cũ… Tất nhiên trong xã hội cũng có một số người sưu tầm sách theo ý thích riêng. Họ có tiền thì họ mua, họ chơi, tuỳ họ, nhưng nếu sách chỉ để đó, không tra cứu, không sử dụng thì sách sẽ vẫn là “không tồn tại” và đó chưa phái là cách chơi sách theo kiểu “vãn hoá sách”.

Vậy ông quan tâm đến các loại sách nào và của các NXB nào ?
Đối với tôi, vì nghề nghiệp cũng như theo sờ thích, tôi hay tìm kiếm các loại sách về kiến trúc, về quy hoạch đô thị và văn hoá, nghệ thuật.
May mắn tôi hay có các chuyến công tác ở nước ngoài. Mỗi dịp như vậy tôi đểu tìm mua bằng được sách kiến trúc của các NXB như McGraw Hill (Mỹ), Willey (Mỹ, Anh), Thames & Hudson (Anh), Phaidon (Anh), Birhũsser, Taschen (Đức), Global Architecture (Nhật), Kiến trúc Công nghiệp Xuất bản xã (Trung Quốc)…

Còn với các NXB trong nước, từ nhiều năm nay tôi đã cộng tác với nhiều NXB ngoài Bắc như NXB Xây dựng, NXB Hà Nội, NXB Khoa học và Kỹ thuật, NXB Vãn hoá – Thông tin… Các NXB này đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc xuất bản các tác phẩm. Tôi cũng đang có ý định cộng tác với một số NXB phía Nam.

Ông nghĩ như thế nào về sách, thị trường sách và nhuận bút sách ở nước ta ?
Thị trường sách của ta gần đây bắt đầu sôi động, có nhiều dấu hiệu đáng mừng. Một số sách có chất lượng nội dung tốt và in ấn đẹp. Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn một số NXB ngại thay đối cách làm để làm sao cho sách đẹp hơn. Tỏi nhớ từ trước năm 1946, ngành xuất bản nước ta đã có những cuốn sách cúa Nguyền Tuân và nhiều tác giả khác in trên giấy đó, thậm chí có sách in hẳn 100 cuốn đặc biệt đế làm quà tặng…

Ớ ta vòng quay của sách còn chậm. Tôi đi một số nước, thấy sách kiến trúc và nghệ thuật ớ các Trung tàm sách ngày thứ 1, ngày thứ 3 và ngày thứ 6 đã khác hẳn nhau. Các cuốn sách quý liên tục xuất hiện. Cũng một cuốn sách đó, bạn có thể mua loại hoặc bìa cứng hoặc bìa mềm.

Còn về giá sách và nhuận bút thì tôi nghĩ rằng có những giá trị không thế đo đêm bằng tiền được, giá trị quan ớ Việt Nam có phần khác giá trị quan ớ một sô nước.

Vậy thê nào là một cuốn sách đẹp ?
Theo tôi nghĩ, một cuốn sách đẹp phải có nội dung tốt, ví dụ như sách chuyên môn thỉ phái có tính khoa học, tính hệ thốiig, còn tiểu thuyết thì phải có tính hấp dẫn, tính nhân văn. Đó là về mặt nội dung. Còn về mặt hình thức, bìa phái đẹp, ảnh phải đẹp.

Xin quay trở lại với chủ đề sách kiên trúc, õng nghĩ thế nào về tương lai của nó tại Việt Nam ?
Thị trường sách Kiến trúc Việt Nam là “một mảnh đất chưa vỡ hoang”, một người bạn Singapore đã nói với tôi như thế, mặc dù nhiều nhà chuyên môn về kiến trúc và xây dựng đến đây và cũng đã tìm được một số cuốn sách mà họ thích thú.

Hiện tại khoảng cách giữa kiến trúc thế giới và kiến trúc Việt Nam rất lớn. Giờ đâv chúng ta không có lý do gì đê đổ lỗi cho chiến tranh là nauvên nhân gày ra điều đó. Trong các cuốn sách kiến trúc đã xuất bản tại Việt Nam, chúng tôi, những người viết sách, dịch sách và làm nghiên cứu về kiến trúc đã cố gắng đề cập đến một số nội dung quan trọng về lịch sử kiến trúc thế giới và Việt Nam, quá trình phát triển đô thị thế giới và Việt Nam, những thành tựu của kiến trúc các nước…

Cái chúng ta thiếu hiện nay và cần đẩy mạnh là nghiên cứu lý luận kiến trúc hiện đại, các vấn đề triết học tư tướng kiến trúc, phương pháp luận thiết kế kiến trúc cũng như các vấn đề về kiến trúc bền vững, kiến trúc sinh thái, vãn hoá kiến trúc…

Có một sỏ người cho ràng, truyền thống gia đình, nhất là sinh ra trong một “đại trạch môn” như ông, là nền tảng rất thuận lợi cho việc phát triển, Nhưng cũng có người lại cho rằng, phận ai người ấy lo, trong cuộc sống hiện đại thành công hay không là do năng lực của bản thân, nhất là muôn được xã hội công nhận thì cái mình có phải do bản thân làm ra chứ không phải do dựa vào nền tảng gia đình. Đối với những người làm khoa học thì đê được xã hội coi trọng thì phải có tài thực sự.

Ông nghĩ gì về điều này ?
Với tôi, gia đình là nền tảng rất quan trọng. Gia đình có thể giúp con người định hình những giá trị căn bản, những nền tảng văn hoá cần thiết.
nhưng không nên ỷ lại vào gia đình, và khi nhìn rộng ra, tôi thấy quá trình giáo dục và trướng thành cứa con người còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác: xã hội, đất nước, sự mở rộng kiến thức, sự tiếp cận với các nước, đặc biệt là sự hiểu biết được hai nền văn minh Đông – Táy, và môi trường làm việc, sự nỗ lực của bản thân cũng là điều cực kỳ quan trọng. Điều đó chắc nhiều người hiểu nhưng làm được và làm như thế nào mới là vấn đề.

Trước đây, khi tôi chuẩn bị vào đại học, thầy giáo dạy Văn của tôi, thầy Võ Phi Hồng (là một nhà giáo dạy Văn rất nổi tiếng thời đó), có khuyên tôi tiếp tục học Vãn. Tôi hiểu lời khuyên đó của thầy vừa là một mong muốn và cũng như lời bắt buộc.

Nhưng Ba tôi thì lại bảo tôi: giũa Văn và Sứ nên chọn Sử hơn, nhưng tốt nhất nên chọn học một ngành Nghệ thuật. Lúc đó, một người bạn cao nên cứa Ba tôi thì khuyên, sau này có đi học ở nước ngoài thì nên học Critique d’Arts (phê bình nghệ thuật) là hay nhất.

Ông thích cả Kiến trúc lẫn Nghệ thuật, vậy ông có tâm niệm gì về những ngành ấy ?
Văn hoá trong kiến trúc ở ta quan niệm chưa đầy đú nhưng ớ các nước người ta quan niệm kiến trúc là một bộ phận cơ bản của văn hoá. Kiến trúc là ngành nghệ thuật mẹ, một ngành nghệ thuật “đầu tiên”. Đó là điều mà xã hội và giới kiến trúc ở ta chưa làm được.

Có lẽ vì thế ông đã chọn Kiến trúc quy hoạch đô thị, lý luận kiến trúc và đi sâu về nghiên cứu vãn hoá nghệ thuật, hay nói theo kiểu của ông “suốt mấy chục năm: “mối bận tâm của tôi là tìm hiểu xem bản chất của kiến trúc là gì”

… Quá trình nghiên cứu bát kỳ một ngành khoa học nào hay ngành nghệ thuật nào cũng bắt dầu từ kháo sát, nghe, thấy, nhìn nhận, đọc, phản tích, khái quát, diễn dịch rồi đến viết, nói, diễn giải, tổng hợp, sơ kết, tống kết… Đặng Thái Hoàng là một người luôn quán triệt những phương châm đó trong công việc của mình.
Trích Lời giới thiệu bộ sách 2 tập “Các bài nghiên cứu, lý luận, phê bình, dịch thuật kiến trúc” của Đặng Thái Hoàng, NXB Xây dựng (2002, 2003).

… Với tôi, những thời gian tn nghiệp và nghiên cứu à Trường đại học Đỏng Tế, Thượng Hải, Trung Quốc vù Trường đại học Kiến trúc lon Mincu, Bucarest, Rumani thật là quan trọng. Những đợt khảo sát kiến trúc nước ngoài sau này – đặc biệt là từ sau ngấy đất nước mở cửa – đã có ảnh hưởng lớn đối với công việc của tôi. Trong rất nhiều tác phẩm kíêh trúc nôi tiếng mà tôi đã tự hào được chiêm ngưỡng, có 3 tác phẩm mà tôi cho rằng giá trị vĩnh cửu của nó đã làm cho tôi tự tin hơn trong giảng dạy và nghiên cứu kiến trúc: Trựđng Bauhaus à Dessau, Đức (tác giả: Walter Gropius), Cung Thể dục thế thao Olympic Tokyo, Nhật Ban (tác giả: Kenzo Tange) và Nhà hát Opera House, Sydney (tác phẩm của Joi n Utzon).

Năm 1996, tôi trở lại Thượng Hủi thăm bà giáo La Tiêu Vị của tôi sau chẵn 30 năm xa cách. Tôi nói với Bà rang những bài giảng Lịch sử kiến trúc của bà trước đây đã làm cho tôi yêu nghề kiến trúc như thế nào. Bà kể cho tôi nghe những nghiên cứu mới nhất về lý luận kiến trúc của Bà và cho tôi nhiều cuốn sách hay. Những giáo sư kiến trúc sư Trung Quốc khác đã giúp đỡ tôi rất nhiều là GS. Ngô Cảnh Tường và GS. Cát Như Lượng, hai ông đều là bậc thầy vê chuyên môn và là những tấm gương về dạo đức đối với giới kiến trúc Trung Quốc. Ớ Rumani, người hướng dẫn chính của tôi là GS. Octav Doicescu, tác giả của nhà hát Opera Bucarest theo phong cách Cổ điển và Trường đại học Bách khoa Bucarest theo phong cách Hiện đại; còn người giúp đỡ tôi cụ thể hàng tuần, gắn bó với dề tài nghiên cứu của tôi là PGS. TS. Mthai Enescu, ông là chuyên gia lớn về kiến trúc bệnh viện.

(Trích từ sách nói trên)

Cuốn sách tâm đắc nhất của ông ?
Đó là cuốn sách đầu tay, “Lược khảo kiến trúc thế giới”, xuất bản năm 1978, cuốn “Những công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới”, xuất bản nãm 1983, NXB Văn hoá. Đây có thể coi là nhũng cuốn sách đầu tiên về lịch sử kiến trúc thế giới có tại Việt Nam và hồi đó đã giúp các sinh viên, các nhà nghiên cứu có thêm tài liệu tham khảo, thậm chí có một số người sau này kê lại rằng chính nhũng cuốn sách đó đã làm cho họ thi vào và gắn bó với ngành kiến trúc. Và cuốn “Nhận diện kiến trúc phương Tây đương đại” (NXB Khoa học và Kĩ thuật, 2000), tập hợp những bức ảnh đẹp về các công trình kiến trúc nổi bật của châu Âu, châu Mỹ và Nhật Bản.

Điều gì là suy nghĩ thường xuyên của ông ?
Tôi nghĩ cuộc sống có hai mặt. Có thành công, có thất bại. Có nhũng cái mình mong muốn đạt được, nhưng cũng có những cái không thể. Điều này tôi đã được hiểu từ khi còn đi học, tôi nhớ trong một bài học tiếng Pháp có nói cần dạy cho trẻ em biết rằng trên đời này không chỉ có hạnh phúc, may mắn mà còn có cả khổ đau và bất hạnh. Đó là khái niệm trong Triết học và trong nghệ thuật gọi là “Unity of Opposite” (sự thống nhất giữa các mặt đối lập). Indira Gandhi trong bài “Tư tướng Ân Độ” đã từng nói “Làm gì chí có lạc thứ mà không có khổ đaụ, giữa tinh thần và linh hồn không bao giờ có sự chia cắt”.

Tôi nghĩ, cuộc đời mà được quan niệm theo kiểu chỉ có thành công không có thất bại, chỉ có trắng mà không cố’ xám, chỉ có động mà không có tĩnh thì thật trái với triết học.