Những công trình nghiên cứu lịch sử kiến trúc phương Tây

Kiến trúc Đông – Nam Á và châu Á hiện tại đang có khuôn khổ phát triển như thế nào, vào thời khắc từ 1970 cho đến hôm nay, và đến thời điểm sắp tới năm 2010, tư tưởng và bộ dạng của nó ra sao, là những vấn đề không chỉ giới học thuật kiến trúc mà cả thế giới đang quan tâm.

Khái niệm địa lý của châu Á, mối liên hệ. và tác động qua lại của nó và phương Tây, cũng như quá trình phát triển 5000, 6000 năm truyển thống của nó, có thể sẽ gắn bó chặt chẽ hoặc một phần với những chặng đường của kiến trúc châu Á giai đoạn hiện nay.

Người châu Âu xưa kia gọi miền đất xa xôi và huyền bí ở phía Đỏng của mình là Phương Đông, bao trùm cả Ai Cập, Tiểu Á. Tế Á, Lưỡng Hà, Ân Độ, Trung Quốc và Viễn Đông… người Australia ngày nay cũng thường tự xem mình là thuộc vể châu Á.

Khái niệm về châu Á rộng mở như vậy sẽ phần nào phù hợp với một tình hình chính trị mới và một quá trình phát triển kiến trúc mới.

Những công trình nghiên cứu lịch sử kiến trúc phương Tây xưa kia, cho đến tận gần đây, đều thường bắt đầu từ Ai Cập, Lưỡng Hà, Ba Tư (một phần của Iran ngày nay)… cho đến kiến trúc Văn nghệ Phục hưng mãi tiếp theo nữa mới đến Ân Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đông – Nam Á…

Cách viết và học lịch sử kiến trúc thế giới ngày nay hoàn toàn có thể khác, có thể đưa An Độ cùng thế giới An Độ hóa, Trung Quốc… với cả các nền kiến trúc Maya, Inca và Aztec ở Trung và Nam Mỹ lên trước, như đối với nhiều nhà học giả kiến trúc đã từng viết, đó cũng là điều rất hợp lý.

Châu Á, trong lịch sử kiến trúc, hoàn toàn có thể xem như những đối trọng xứng đáng làm cho nền văn minh phương Tây phải tỏ ra khiêm nhường.

Hình thức và quan điểm kiến trúc cổ đại Ấn Độ, với đặc chất “cộng sinh đa nguyên”, với những “cội nguồn của linh cảm”, đi từ Stupa Sanci, đến đền đài ở Khajuraho, đến Lãng Taj Mahal… đã làm cả thê giới kinh ngạc. Nhưng cũng cần ghi nhận rằng, trong những thành tựu của kiến trúc hiện đại và đương đại Ấn Độ và Nam Á. có sự đóng góp đáng kể của một số kiến trúc sư lớn phương Tây cũng như ánh hướng của họ, và trong tinh túy bút pháp cứa các kiến trúc sư đương đại Ân Độ, có sự chắt lọc cùng với việc biết phê phán “gánh nặng của quá khứ”.

Những nghiên cứu về kiến trúc Trung Quốc thời kỳ Tiền — Phật giáo, cố, Trung đến Cận, Hiện đại, không thế chỉ đo đếm được bằng những tổng kết trong “Doanh tạo Pháp thức” hay trong sách của Lương Tư Thành, mà còn bằng vô sô những công trình nghiên cứu khác của các tác giả Trung Quốc, châu Á và phương Tây.

Không chỉ Trung Quốc được khắng định mình bằng Vạn Lý Trường Thành, bằng sự phát triển thể hệ ngoại hình cũng như mặt bàng, câu trúc của các hệ thống đền đài, chùa tháp, cung điện mà đinh cao là Cô cung Bắc Kinh; Nhật Bản cũng nhân mạnh sự hiện diện từ xa xưa của mình bàng các đền đài ỏ’ Nara và Kyoto, những địa danh được gọi là “Linh hồn của Nhật Bán”, mà tác phẩm tiêu biểu kiệt xuất nhất về kết cấu gỗ còn tồn tại từ thế ký thứ VII cho đến hiện nay là quần thể chùa tháp Horiuji Nara.