Những công trình đầu tiên của Eisenman

Những Công trình đầu tiên của Eisenman vì vậy đã phối hợp hai nguyên tắc theo chủ nghĩa cấu trúc tiêu chuẩn: hao trùm toàn bộ ngữ cảnh cả về mặt vật chất vả lịch sử, và với điêìi này sự hao trùm những chủ dê cá nhàn, khi xem xét tới một khái niệm của hệ thống kiến trúc xuất hiện giữa những bộ ốc sáng suốt về tầm quan trọng mà, giống như ngôn ngữ, dặt lại ngày tháng đối với bất kỳ cá nhân nào và không quan trọng bằng sán phẩm của anh ta hoặc cô ta so với việc cô ta hoặc anh ta là sản phẩm của nó.

Vì vậy, sự khó khăn đối với người ngoài trong việc hiếu những hệ thống mã của Eisenman, bới vì ngôn ngữ là một thứ bên trong chắc chắn đỏi với nguyên tắc này. Do vậy, giông như nhà triết học Andrew Benjamin đã chi ra quan điếm về cấu trúc “phi cá nhân” tồn tại trước là một yếu tố chính của V tướng vể truyền thống. Do liên quan một cách chù động và chính lịch sử cúa nguyên tắc này với mức độ toàn cầu và sâu sắc hơn, Eisenman có khả năng sẽ đưa ra một bài diễn thuyết có ý nghĩa hơn, phụ thuộc vào như thể là nó có trong những yếu tố cơ bản của tính chất. .

Chính nơi đây, nơi mà hậu chủ nghĩa cấu trúc, trong sự đánh giá lại những ý tưởng này, giao nhau với sự phá huỷ những điều khoản của sự liên quan của nó tới truyền thống. Khi công trình kiến trúc của Eisenman bắt đầu được chỉ ra, trong ngôn ngữ chính thức trừu tượng của nó, vẫn có nhiều điều phải được thu thập từ việc hiểu “cấu trúc sâu”.

Chú đề về những ảnh hướng cơ sở này và cách mà chúng ảnh hưởng tới việc hiểu của chúng ta – trước tiên như là một yếu tố phân tích chính trị của toà nhà và cuối cùng là một phần của việc giải thích tổng thể.

LÊ ĐỨC NHUẬN, NGUYỄN LAN PHUƠNG và ĐẶNG THÁI HOÀNG dịch từ cuốn “Building Ideas An Introduction to Architectural Theory”

Nhà xuất bản Wiley – 2000, Anh quốc

 

Những công trình đầu tiên của Eisenman 1

Những công trình đầu tiên của Eisenman 1

Aldo van Eyck – Orphanage, Amsterdam, 1957 – 60: Upper level plan

Những công trình đầu tiên của Eisenman 1

Herman Hertzberger – LiMa Housing, Berlin – Kreuzberg, 1982 – 86

Những công trình đầu tiên của Eisenman 1

Herman Hertzberge – Centraal Beheer Offices, Apeldoorn, The Netherlands, 1968 – 72

Những công trình đầu tiên của Eisenman 1

Herman Hertzberge – Centraal Beheer Offices, Apeldoorn, The Netherlands, 1974

 

TÀI LIỆU GỢI Ý ĐỌC THÊM

1. Roland Barthes, Mythologies, dịch bởi Annette Lavers, Harper Collins London, 1973.

2. Tery Eagleton, “Chủ nghĩa cấu trúc và ký hiệu học”, trong Lý thuyết văn chương giới thiệu, Tnrờng Đại học Minnesota Press, Minneapolis, 1983, tr. 91-126.

3. Richard Kearney, “Ferdinand de Sausure”, “Claude Lévi-Strauss” và “Roland Barthes” trong Phong trào hiện đại của Triết học Châu Alt, Trường Đại học Manchester, Manchester, 1986.

4. Claude Lévi-Strauss, “Nghiên cứu cấu trúc về sự thần thoại”, trong Nhân loại học cấu trúc, Basic Books, New York, 963, tr. 201-31.

5. Ferdinand de Saussure, Khóa học về ngôn ngữ liọc tổng hợp, dịch bởi Wade Baskin, McGraw-Hill, New York, 1966.

6. Roland Barthes, “Ký hiệu học và đô thị”, trong Neil Leach (ed.). Suy ngẩm lại về kiến trúc, Routledge, London, 1997, tr. 166-72.

7. K. Michael Hays, “Từ cấu trúc tới Công trình tới Văn bản: Eisenman Trajectory”, trong Suy nghĩ hiện tại: Kiến trúc Mỹ ngày nay, Hays Burns (eds), Princeton Architectural Press, New York, 1990, tr. 61- 71.

8. Herman Hertzberger, “Trật tự xây dựng” trong VIA, Sô’ 7, 1984 dược khôi phục lại bao gồm cá Herman Hertzberger, Những bài học cho sinh viên vê kiến trúc, trang 126-45, dịch bởi Ina Rike, Uitgeverij 010, Rotterdam, 1991.

9. Charles Jencks, Ngôn ngữ của kiến trúc hậu hiện đại,Academy Editions, London, 1978.

10. Robert Venturi và cộng sự, Học tLas Vegas, MIT Press, Cambridge, MA, 1997.

11. Geoffrey Broadbent, “Một hướng dẫn của loài người đối với lý thuyết tín hiệu trong kiến trúc”, trong Thiết kế Kiến trúc, Số 47, 7-8/1978, trang 474- 82. Tái bản tại Kate Nesbitt (ed), Lập lý thuyết một Lịch mới cho kiến trúc:

Tuyển tập các lý thuyết kiến trúc 1965 – 95,Princeton Architectural Press, New York, 1996, tr. 124-40.

12. Mario Gandelsonas, “Ngôn ngữ học trong kiến trúc”, trong Casabella. Số: 374, 2/1973. Tái bản tại K.Michael Hays (ed.). LÝ thuyết kiến trúc từ lìăm 1968. MIT Press, Cambridge, MA. 1998, tr. 114-22.

13. Michael Graves. “Một trường hợp dối với kiến trúc tượng trưng”, của Wheeler, Arnell và Bickford (eds.), Michael Graves: TIilià và các dự ủn 1966-81,Rizzoli, New York. 1982, trang 11- 13. Tái bản bới Kate Nesbitt (ed.). Lập lý thuyết một lịch mới cho Kiến trúc: Một tuyến tập lý thuyết kiến trúc 1965 – 95, Princeton Architectural Press, New York, 1996, tr. 86-90.