Nguyên tắc cơ bản trong công trình của Eisenman

Hệ thống cột tạo nên một hệ thống tối thiểu về sự sắp xếp cho phép một sự thông thoáng lớn khi nó được điền vào và nhờ đó có thể phối hợp với những phần đa dạng được dưa ra từ một chương trình tổng thể cao. Trong khi đó để đảm báo được tính đồng nhất của tổng thể, hệ thống cột là một sự được khuyến khích để hình thành nên mọi điểm phù hợp với những yêu cấu của từng tình huống cụ thể.

Bằng phương pháp này anh ta hy vọng sẽ đem lại một cảm giác rõ ràng giữa người sử dụng và không gian. Căn cứ vào “sự thống trị” của môi trường cá nhân này, mà bản thân toà nhà đạt ra để khuyến khích thêm. Để giúp đỡ quá trình này chiếm đoạt được một loạt những đầu mối được cung cấp bới nhà kiến trúc sư này – nơi để ngồi, để trưng bày những vật và được sử dụng nhũng đồ phù hợp mà có thê di chuyển xung quanh là tất cả những cố gắng để truyền đạt mối quan hệ giữa những dân cư thường xuyên thụ động và môi trường vật chất của mình. Trong khi Michael Graves đã chọn lựa một giải pháp ngữ nghĩa học, đưa ra những hình thức tương tự và những tham khảo lịch sử, Hertzberger lại đưa ra một quá trình hên quan đến thể xác một cách mớ rộng và năng động hơn thông qua công dụng của toà nhà. Việc sử dụng mẫu đó đã sinh ra những ý nghĩa đã từng được đề cập tới trong cuộc thảo luận của chúng ta về ngôn ngữ, nhưng với những yếu tố cấu trúc này điều tương tự có thể được thảo luận, giống như Roland Barthes đã thực hiện với tháp Eiffel. Ông ta coi tháp này như là một phần thô của công nghệ hoạt động như dấu hiệu “trống rỗng” lý tướng hoá – một mẫu lý tưởng của những dấu hiệu trung lập đối với hàng loạt các ý nghĩa khác có thê một cách dễ dàng gắn chặt bản thân chúng. Mẫu Barthes về độc giả “chủ động” này – liên quan tới một quá trình sáng tạo của việc hiểu lại – có thể chúng được áp dụng cho những người dân cư lý tưởng của Hertzberger, như là một loại bricoleur xác định một cách có hiệu quả toà nhà này.

Một sự lựa chọn khác đối với một đoạn ngữ nghĩa của tư duy theo chủ nghĩa cấu trúc xuất hiện từ những thành viên New York Five của anh ta, Richard Meier Peter Eisenman. Meier đã tiếp tục phát triển phương pháp của mình dựa vào một hình học trừu tượng của mẫu “trắng” thông qua một loạt những dự án quy mô lớn của những toà nhà gallery và bảo tàng, chẳng hạn như Atheneum ở New Harmony High Museum Atlanta. Trong khi những Công trình ra đời sau này liên quan tới phong trào và ý tưởng về “những cuộc dạo chơi kiến trúc”. Họ đã ngăn cản khỏi một sự cam kết nghiêm ngặt thực sự với nhữna quy tắc của cấu trúc cú pháp. Mặt khác, Eisenman khiến việc áp dụng những ý tướng này trớ nên rõ ràng, chắng hạn như trong những hệ thông chính tống thế và sự biến đối ớ “House VI”. Nguyên tắc cơ bản trong công trình của Eisenman là tương tự với nguyên tắc được nhận thấy ở Hertzberger, nơi mà ý nghĩa của hình thức ban đầu là điều gì đó không bị bó buộc, nhưng trong trường hợp của Hertzberger, sự quan trọng xuất hiện ngoài tầm của mẫu sử dụng, trong công trình của Eisenman, điều đó thậm chí còn khó nắm bắt hơn. Nơi “ý nghĩa đi sau chức nãng” trong các toà nhà của Hertzberger, “chức năng theo sau hình thức” của Eisenman. Khi anh ta viết về điều này trong việc mô tả “House I” ớ một bài luận có trong sách Five Architects.

House I thừa nhận một sự lựa chọn đối với những khái niệm tồn hiện có vể việc tố chức có tính không gian. Có một cố gắng ớ đây, đầu tiên nhằm tìm kiếm cách mà trong đó hình thức mà khoảng không có thể được cấu trúc, vì vậy chúng đưa ra một thê thống những mối quan hệ chính thức là kết quả của bản thân những hình thức logic vốn có. thứ hai là đế điều khiển những mối quan hệ logic của những hình thức này một cách chính xác.

Anh ta tiếp tục thảo luận về sự phân biệt trong kiến trúc giữa những cấu trúc thực của toà nhà và nhũng cấu trúc ẩn của hình thức – cấu trúc ẩn đưa ra một hệ thống “cấu trúc sâu” một cách tiềm ẩn và anh ta cho rằng có thể cung cấp nhũng khả năng mới để nhận được ý nghĩa. Xuyên suốt những dự án ban đầu mà anh ta coi kiến trúc như một nguyên tắc tự trị và khám phá ra mã. Theo đó các hình thức được kết hợp. Cú pháp này sau đó tạo ra một loạt những sự biến đổi mà hình thành nên một hệ thống của các nguyên tắc cấu thành. Như một nhà phê bình đã viết khi mô tả quá trình này: