Lý luận về khoa học ký hiệu thứ ba

Khi phân tích bản thân quá trình nhận thức cần thâm nhập sự vật và thu hoạch tri thức càng nhiều càng tốt. Và Peirce đã đưa ra các định nghĩa minh hoạ cho các khái niệm của sơ đồ 3 vòng tròn đồng tâm nói trên:

a) Đầu tiên, chiếm vị trí số 1, là bất kỳ một sự vật tồn tại độc lập nào, về thực chất đó cũng là ký hiệu tự thân, nó mang tính đơn nhất.

b) Thứ hai, nó có quan hệ với một sự vật khác, có mối hên hệ mang “ý nghĩa ký hiệu”, thì đó là ký hiệu với đúng nghĩa của nó, lúc đó nó có “hình thức ký hiệu”. Đó là mối liên hệ tương tác, song trùng giữa hình thức, biếu tượng với ý nghĩa.

c) Tầng lớp thứ ba là nội dung và việc giải thích các mã ký hiệu “thay mặt”, với công việc chính là giải thích ký hiệu, đó không còn là quan hệ tương tác, hai chiều nữa mà là ba chiều, đó là “cấu trúc tầng sâu”, là “toàn bộ ký hiệu”.

Ba tầng trên đây, xuyên suốt vào nhau và bao dung lẫn nhau.

Đây là một quan điểm hoàn toàn hiện đại, Peirce còn tiếp tục giải phẫu và suy diễn cấu trúc 3 tầng trên đây, đem mỗi tầng làm thành một cấu trúc có 3 phân tầng, có nghĩa là có 9 cấu thành, và tiếp tục chia như vậy, sẽ có một cách tổ hợp gồm 27 cấu thành… Cách lý giải tầng và phân tầng như vậy cho thấy rõ căn cứ giải thích của ký hiệu cũng như phương thức biểu hiện của ký hiệu.

Thật ra, khái niệm giải thích không phải chỉ Peirce quan tâm, mà nhiều nhà nghiên cứu, nhà lý luận kiến trúc trước đó và sau đó đã có nhiều công bố được chú ý.

Jonathan A. Hale (sách đã dẫn ở phần trên) đã đi sâu nghiên cứu môn Giải thích học (Hermeneuties) và đề xuất cần có một môn Giải thích học phê phán (Critical Hermeneutics), với nội dung đổi mới và được nấng cao hơn, vì từ Hermeneutics ngày nay xuất phát từ việc cố gắng xây dựng sụ bình luận (trong Kinh thánh) và trong môn Ngữ văn cổ điển. Tầm vóc của môn Giải thích học gắn bó với cụm từ khoa học nhân loại. Jonathan A. Hale cũng đã đề cập đến “xu hướng chung của tác phám Heidegger là nhà triết học này đã phát triển từ việc nhấn mạnh “thế giới sống” hàng ngày đến dặc quyền của ngôn ngữ.

Heidegger đã từng viết: “Khi nào một cái này được giải thích như một cái kia, cách hiểu sẽ được hình thành bản chất nhờ vào sự hiểu trước, sự thấy trước, và sự quan niệm trước. Cách diễn dịch không bao giờ là sự thiếu phóng đoán nắm bắt cái đã bộc lộ trong chúng ta” (Bản chất và thời gian).

Jonathan A. Hale trích dãn Heidegger, cũng là để góp phần khẳng định chính kiến của mình: “Các công trình luôn luôn mang theo những thông diệp dù cô ý hay không, thể hiện kiến trúc tượng trưng theo cùng với nỗ lực cùa loài người”.

Lý luận về khoa học ký hiệu thứ ba, sau Ferdinand de Saussure và Charles Senders Peirce là lý luận về khoa học tổng hợp mang tính tượng trưng cho những giá thiết về ký hiệu học của Charles Morris, trong đó bao gồm cả Mỹ học, Tâm lý học và Xã hội học nhân tri. Các bộ môn này là những thành phần thực dụng của ký hiệu học. Ký hiệu học đóng vai trò là một “khoa học tổ chức” đối với các ngành khoa học đó. Morris cho rằng ký hiệu học có 3 bộ phận thành phần: ký hiệu học cấu trúc, ký hiệu học ngữ nghĩa và kv hiệu học ứng dụng.