Ký hiệu học kiến trúc giống ký hiệu học trong ngôn ngữ học ở chỗ nào ?

Sau Chomsky, ở trong kiến trúc, người ta thấy xuất hiện các khái niệm “kết cấu tầng sâu” (Deep Structure), “kết cấu bề mặt” (Surface Structure), “ý nghĩa” (Meaning), “giải mã” (Decoding), “ngữ nghĩa học” (Semantic), “cú pháp học” (Syntax).

ký hiệu học kiến trúc giống ký hiệu học trong ngôn ngữ học ở chỗ nào ? Đó là tính song trùng của kết cấu bề mặt và kết cấu tầng sâu. Bố trí công năng mặt bằng, bố cục hình khối, sử dụng màu sắc chất cảm kiến trúc… thông thường được coi là cấu trúc bề mặt. Còn mục đích ý nghĩa cũng như vấn đề “nó nót lên điều gì” của xử lý ký hiệu kiến trúc lại chứa đựng trong cấu trúc tầng sâu. Thiếu độ sâu. mà chỉ quan tâm đến bề mặt, sẽ dẫn đến chu nghĩa hình thức (Formalism).

Tính chất tượng trưng của văn hoá có khả năng dẫn đến sự liên tưởng phong phú, có khi biểu đạt được một hình tượng cụ thể, có khi mang ý nghĩa tượng trưng.

Từ năm 1976, Charles Moore đã cho rằng:

1. Kiến trúc có thế và phái nói được.

2. Kiến trúc cần phải nói một cách tự do, chủ nghĩa công nãng đã “bóp nghẹt” tư tưởng này và hạn chế mối quan tâm của công chúng.

3. Các kiến trúc công nãng thường gây ấn tượng trống vắng và thù địch, nó cần được thay thê bằng những cái có thể “trụ lại được” trong tâm hồn và cơ thể con người.

4. Phải thiết kế những không gián vật thể và những không gian bao quanh kiến trúc, không trừu tượng như kiểu hình học Descarte, nhằm có lợi cho con người và cách nghĩ cứa con người.

5. Dù muốn hay không, nhũng không gian và hình dáng của kiến trúc phái chứa đựng những phẩm chất tâm lý, chúng ta nhận thức những phẩm chất đó và chứng sẽ hỗ trợ hồi ức của con người cấu trúc lại mối liên hệ giữa thời gian và không gian.

Nghiên cứu cụ thể hơn các loại lý luận ký hiệu học một cách hệ thống của Ferdinand de Saussure, Peirce và Charles Morris là điều cần thiết trước khi đi sâu thêm vào cấu trúc ký hiệu kiến trúc:

Lý luận ký hiệu cùa Ferdinand de Saussure bao gồm 3 nội dung chính: sự khác biệt giữa ngôn ngữ và tiếng nói, mối quan hệ đoạn câu và mối quan hệ liên tướng của ký hiệu ngôn ngữ và các yếu tố cấu thành ký hiệu (tam giác ký hiệu học).

1. Về sự khác biệt giữa ngôn ngữ (Language) và tiếng nói (Parole), hai khái niệm này rất khác nhau, ngôn ngữ gắn bó với hệ thống của cá xã hội, trong khi tiếng nói (lời nói) là hành vi cứa một cá nhân, của các cá nhân; hệ thống ngôn ngữ là sán phẩm được thừa nhận, được tạo thành khuôn phép sau một thời gian dài được ước định rồi khắng định, còn hoạt động của lời nói lại gắn bó với tập quán sứ dụng cân cứ trên hành vi “phát ngôn” cứa một người hay một thiểu số người.

2. Mối quan hệ doạn câu, cứ pháp (Syntagma Relations) và mối quan hệ liên tưởng (Associative Relations); khái niệm thứ nhất là phương thức sắp xếp không thể thay đổi giữa các ký hiệu ngôn ngữ của kết cấu câu; còn khái niệm thứ hai là chỉ mối quan hệ liên tưởng được cấu thành từ một điểm chung mà bản thân bên trong ngôn ngữ vốn có. Không dừng lại ở phạm vi ngôn ngữ học, de Saussure đã từng lấy kiến trúc ra đế giải thích hai khái niệm trên: de Saussure ví dụ quan hệ đoạn câu trong kiến trúc thức cột là mối quan hệ giữa cột và dầm, còn mối quan hệ liên tướng ớ đây là từ một cái cột Doric, ta có thế nghĩ tiếp về cột Ionic, cột Corinthian…

3. Về tam giác ký hiệu học (Semiotic Triangle), từ de Saussure đến Ogen và Richards, nó đã được hình thành theo sơ đồ và tên gọi (nguyên gốc tiếng Anh) như sau;

 Ký hiệu học kiến trúc giống ký hiệu học trong ngôn ngữ học ở chỗ nào ? 1

Signified

Signified (cái được thê hiện, được tín hiệu hoá) bao gồm các khái niệm: tư duy, ý tướng, khái niệm… những thứ cụ thể được biểu hiện.

Signifier (cái thể hiện, tín hiệu) có nghĩa là lời nói cứa các câu chữ, các sơ đồ, bản vẽ, hình ảnh hoặc bất cứ thứ gì đó dùng để thể hiện các ý tưởng.

Referant (vật thực* khái niệm cụ thể) là một vật, một người hoặc một thứ gì đó mà các khái niệm đề cập đến.