Ký hiệu học cấu trúc, ngữ nghĩa và ứng dụng

Các học giả nhiều nước đã tóm lược luận điểm trên của Morris lại một cách sáng tỏ như sau:

a) ký hiệu học cấu trúc chủ yếu nghiên cứu sự cấu thành của ký hiệu, câu thành đây là tổ chức kết cấu.

b) ký hiệu học ngữ nghĩa nghiên cứu các loại ý nghĩa biếu đạt cùa ký hiệu.

c) ký hiệu học ứng dụng là những tìm tòi về nguồn gốc, cách sử dụng và tác dụng của ký hiệu, và mối quan hệ giữa ký hiệu và người sử dụng nó.

Sơ đồ tổng quát về lý luận ký hiệu học của Charles Morris là như sau:

Ký hiệu học cấu trúc, ngữ nghĩa và ứng dụng 1

Giữa ba “vòng tròn” trên có một mối liên hệ “bao hàm” và “chứa đựng”, tron° đó ký hiệu học ứng dụng là chính, ký hiệu học naữ nghĩa “nằm trong” và là một bộ phận của nó, tiếp đến ký hiệu học cấu trúc lại là bộ phận thành phần của “ý nghĩa”.

Ta có thể so sánh quan niệm của Peirce với quan niệm của Charles Morris theo bảng sau:

Ký hiệu học cấu trúc, ngữ nghĩa và ứng dụng 1
 

Sau khi quan sát bảng trên ta thấy lý luận ký hiệu học của Morris là kết quá của sự phát triển và làm sâu sắc thèm lý luận của Peirce, và tính toàn diện, tính hệ thống, cùng với 3 bộ phận tạo thành ký hiệu học của Morris đã dược thế giới thừa nhận.

Chuyển sang lĩnh vực câu trúc (kết cấu) của ký hiệu kiến trúc, có nghĩa là sang lãnh địa của các kiến trúc sư cùng các tác phẩm kiến trúc, chúng ta nên thừa nhận đây tuy là một khu vực của nghệ thuật kiến trúc, nhưng vai trò khai sáng vẫn thuộc về một số bậc đầu đàn về Triết học và Ngôn ngữ học. Có ba nội dung sau đây nên được nghiên cứu: a) Chủ nghĩa công nãng và kết cấu ký hiệu; b) Lý luận về cấu trúc ngôn ngữ của Noam Chomsky và việc xem xét nó trong kiến trúc; c) Những tìm tòi nghiên cứu của Peter Eisenman về cấu trúc ký hiệu trong kiến trúc.

Với tiêu đề a) là “Chủ nghĩa công năng và kết cấu ký hiệu”, tiêu đề này còn có thể có tên gọi nữa là “Chủ nghĩa Công năng tồn tại những vấn đề gì ?”. Geoffrey Broadbent “khuyến nghị” Chúng ta hãy so sánh 2 tác phẩm kiến trúc; một là Toà nhà tháp nghệ thuật (Arts Tower) của Trường đại học Sheffield và Toà nhà Khoa công nghệ (Engineering Building) của Trường đại học Leicester. Công trình thứ 1 – theo Nicolau Pevsner – là một tác phẩm “Công năng chủ nghĩa cao độ và thuần tuý”; còn Toà nhà thứ 2 – tác phẩm của James Stirling – được xem là một “tác phẩm biểu hiện chủ nghĩa đích thực”. Công trình thứ nhất nhấn mạnh đường thẳng, góc vuông, dùng tường rèm pha lê, sản phám cúa sự sùng bái co khí máy móc, xem nhẹ lịch sứ và dấu ấn địa phương, cách nhiệt, cách âm, chống nắng, chống nóng rất kém. Công trình thứ hai, với nhiều góc vát, các lát cắt chéo, tạo hình phong phú, phân chia các khối chức nãng rõ ràng, lại có vẻ “duy lý hơn” và “công năng hơn”. Chính vì vậy, chúng ta cần phải thận trọng hơn trong sử dụng thuật ngữ kiến trúc, nếu không thì có thể sẽ dẫn đến lẫn lộn một số khái niệm. Vì vậy khái niệm kiến trúc phải đi đôi với sự giải thích kiến trúc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Jonathan A. Hale. Building Ideas. An introduction to Architectural Theory. Wiley – 2000.
  2. Liu Xianjue. Theories of Modern Architecture. Trung Quốc kiến trúc công nghiệp xuất bản xã – 1999.
  3. Gordon Graham. Philosophy of the Arts. An Introduction to Aesthetics. Second Edition. Routledge – 2000.
  4. Đặng Thái Hoàng. Các bài nghiên cứu lý luận phê bình dịch thuật kiến trúc, tập I (2002), tập 2 (2003). Nhà xuất bản Xây dựng.
  5. Stein, Spreckelmeyer Editors. Classic Readings in Architecture. McGraw- Hill, 1999.

Ký hiệu học cấu trúc, ngữ nghĩa và ứng dụng 1 

Hình 1: Công trình M2 ở Tokyo, tác phẩm của Kenzo Kutna & Associates, có công năng là phòng trưng bày, phòng họp, nhà hàng, vãn phòng, có hình thức được gợi nhớ lại từ những hình thức dầm, cột, vòm cuốn và thức cột trước đây, có thể nói dây là một “cách chơi ngữ thoại lịch sử theo kiểu mới”, hoặc “một sự đùa cợt đứng đắn (?)”


Ký hiệu học cấu trúc, ngữ nghĩa và ứng dụng 1 

Hình 2: Tác phẩm “Thuyên” (Sơn dầu của họa sĩ Tô Ngọc Thành), một hình ảnh gợi lên sự ra khơi

 

Ký hiệu học cấu trúc, ngữ nghĩa và ứng dụng 1

   Hình 3: Chi tiết nội thất Nhà ga hàng không quốc tế Kansai, Osaka thê hiện sự nhất trí giữa hình thức và công năng và vòm mái giống như một hộ xương khủng long

 

 Ký hiệu học cấu trúc, ngữ nghĩa và ứng dụng 1

Hình 4: Những cánh buồm là vòm mái của Nhà hát Opera House Sydney, Australia, icrs John Utzon. Hình thức và công năng không nhất trí, nhưng kiến trúc vẫn mang nghĩa