Kiến trúc Giải toả kết cấu sự ra hoa và kết quả nhất định

Tác phẩm Trung tâm nghệ thuật thị giác Wexner của Trường đại học Ohio, Ohio, Mỹ (1989) của Peter Eisenman có hình khối và các yếu tố “xô lệch”, “cải biến”, “giao thoa”, “trùng lặp”, “xung đột” và “thay đối mối quan hệ chính – phụ”, tuy rất “đẹp” nhưng cũng làm cho con người “lạ lẫm” và thấy nhu’ mình “thoát ly” khỏi thế giới hiện thực.

Eisenman còn là tác giả của một số tác phẩm đáng chú ý khác:

–    Ngôi nhà chung cư phúc lợi IBA ớ Berlin, sử dụng hình thức mạng Mercator (Mercator grid) cho mặt chính, muốn sử dụng phương thức tổ hợp này để tìm lại sự “gắn bó với các cổ vật khảo cổ”.

–    Các ngôi nhà ở House 1, House 2, House 3, House 6, House 10…, với đặc điểm là những ngôi nhà xây trước đã phát huy đầy đủ bút pháp của Le Corbusier, còn những ngôi nhà xây dựng về sau này thì lại triệt để áp dụng “tính xung đột” giữa lôgic hình thức và công năng, tự xem tác giả không còn là “kiến trúc sư – nhà lôgich học” nữa mà là “kiến trúc sư – nhà nhân loại học”; các tòa nhà nên thê hiện sự “thách thức” giữa “dấu ấn cổ tích” với “quan niệm lịch sử thông thường”.

Học viện nghiên cứu Năng lượng mặt trời của Trường đại học Stuttgart, Đức (Hysolar Research Institute University of Stuttgart) (1987) do Benish Partner thiết kế đã dùng thú pháp cơ bán sau đây:

a) Làm phân tán và mất trật tự bố cục, hình dáng, tỉ lệ, màu sắc…

b) Đục khuyết và làm mất sự hoàn chỉnh, sự toàn vẹn, làm cho con người kinh ngạc;

c) Làm đột biến, gây nên nhũng sự thay dổi đột nhiên;

d) Tạo cảm giác động thái, do có nhũng hình khối uốn vặn, mất ổn định, mất trọng lượng, gây ấn tượng bay bổng (khác với cảm giác trang trọng, đối xứng thường có trong kiến trúc cổ điển)

e) Tạo lập sự cách tân đến mức cao nhất.

Bernard Tschumi với tác phẩm Công viên La Vilette, Paris, Pháp, tác phẩm tiêu biểu của kiến trúc Giải toả kết cấu thế giới, đã được coi là “Hình mẫu của Công viên của thế kv XXL’. Thủ pháp của Tschumi trong tác phẩm này là trùng lặp (Superposition) và phân ly (Dissociation), toàn bộ khu vực được chia thành các hệ thông điếm (hệ thống vật thê) hệ thống tuyến (hệ thòng vận động) và hệ thống diện (hệ thống không gian), ba hệ thông này khớp vào nhau, trùng lặp trên nhau, xung đột với nhau, mỗi cái lại vẫn có sự khác biệt riêng. Từ thủ pháp nhấn mạnh sự thiếu tính toán, sự nhiễu hệ thống và sự mất ổn định trong kiến trúc, Tshumi đã tạo được một hệ thống công viên lớn về mặt xã hội rất có ý nghĩa đó là một công viên sinh động, mang tính giáo dục, năng động và hấp dẫn, khác với sự thụ động và tiêu cực cua các còng viên trước đây.

Một đại kiện tướng khác của kiến trúc Giải toả kết cấu là Frank o. Gehry, mà triết luận và hình thức kiến trúc của ông từ ngôi nhà riêng của ông Santa Monica, California (Mỹ), qua nhiều tác phẩm khác, đến bảo tàng Museaoa Guggenheim ớ Bdbao, Tây Ban Nha (tác phám được xem là đẹp nhất kiến trúc thế giới năm 1997) là cả một chặng đường dài. Tác phám của ông không thể giải thích được bằng nhũng lý luận của Mỹ học truyền thống. Nhiều tác phẩm của ông được gọi là “nhũng con tàu quái dị” hay “những bó hoa lộng lẫy”. Còn đối với các nhà phê bình nghệ thuật ớ các nước phương Đông, họ cho rằng các tác phẩm của ông (thiết kế cho Châu Á) có xuất xứ từ những bức tranh thuỷ mạc Hàn Quốc hay từ những nét chữ cuồng tháo của Thư pháp Trung Hoa.

Dù có những nét phức tạp và rối loạn, thậm chí khó hiểu trong quan niệm, kiến trúc Giải toả kết cấu đã có sự ra hoa và kết quả nhất định và có một số quan hệ “gần gũi”, thậm chí “họ hàng với trào lưu kiến trúc quan trọng nhất cuối thế kỷ XX, đầu thế ký XXI là trào lưu kiến trúc Hiện đại mới (Neo- Modernism). Kiến trúc Giải toả kết cấu chủ nghĩa – có những nét tiến bộ và đáng xem xét – là nó đã “vượt qua những nguyên tắc tổ hợp (bố cục) của Mỹ học kiến trúc ta vẩn thường thấy ngày hôm nay”.