Đội ngũ kiến trúc sư Việt Nam 1954 – 1986

Cách đây chẵn mười năm, chúng tôi đã nghiên cứu và công bố trên tuần báo Văn nghệ một bài viết về độ ngũ kiến trúc sư Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám cho đến năm 1985. Vì vậy, hôm nay, nhân những ngày lễ lớn 1995, đặt bút viết một đề tài như vậy, chúng tôi thấy vững tâm hơn, vì đã có một số tư liệu, một số nhận định đã được nghiên cứu. Tuy vậy, mười năm đã qua, cũng có nhiều đổi thay, ngày nay nhìn nhận lại chặng đường 50 nãm của đội ngũ kiến trúc sư Việt Nam, những ý kiến mới toàn diện hơn cũng đã xuất hiện trong tôi và chúng tôi thấy mình phải viết sao cho cô đọng mà vẫn đầy đủ.

Trước hết, tôi thấy thời gian cho việc nghiên cứu kiến trúc 50 năm qua (1945 – 1995), hình như cần có một quá trình chuẩn bị trước đó với các kiến trúc sư Việt Nam học ớ trường Beaux Arts Đông Dương ra (với các tác phẩm và phong cách của họ) nên phải dài hơn năm thập niên chút ít. Ngoài ra, chúng ta đề cập đến đội ngũ kiến trúc sư Việt Nam ở thời điểm 1995, có nghĩa là hoặc chúng ta đang bàn đến tương lai gần và tương lai xa cúa kiến trúc việt nam. Một vấn đề khác: các kiến trúc sư miền Nam cũ, mà ta trước đây quan niệm họ là “phía bên kia”, nay nhìn lại lịch sử, nhìn lại đặc thù của nghệ thuật kiến trúc và kĩ thuật xây dựng, chúng ta cần có một cái nhìn như thế nào cho hợp lý ?

Về đại thể, 50 năm qua, đội ngũ kiến trúc sư Việt Nam có ba thế hệ chính, trong mỗi thế hệ lại có “sự phân nhánh nhiều tuổi hơn hay ít tuổi hơn nhau chút ít”.

Thế hệ kiến trúc sư thứ nhất đã có những đóng góp cho nền kiến trúc nước ta trong khoảng 30 năm đầu kể từ thời kỳ tiền cách mạng, đó là các kiến trúc sư – trí thức tốt nghiệp trường Cao đắng Mỹ thuật Đông Dương tất cả các khoá từ những năm 1930 đến 1945. Kháng chiến gian khổ, họ đã ra đi với hành trang đơn giản, để lại một số tác phấm họ đã xây dựng các vùng tạm chiếm. Đó là một số biệt thự kiếu châu Âu hay kiểu Á Đông; thể nghiệm qua những tìm tòi cá nhân, qua kiến thức học được ớ nhà trường hay ớ một số thầy giáo người Pháp yêu nghề như kiến trúc sư Kruze. Ở Hà Nội ngày nay, ta còn thấy nhiều biệt thự – những tác phẩm đầu tay hay tiền kỳ đó – của Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Tạ Mỹ Duật, Huỳnh Tấn Phát, Ngô Huy Quỳnh, hay ngôi chùa Quán Sứ của Nguyễn Ngọc Ngoạn. Ớ chiến khu. lớp các nhà kiến trúc đầu tiên của đất nước này chỉ gặp những cánh rừng tranh, tre, nứa, lá bạt ngàn, nhưng họ cũng đã sử dụng được chúng đế thiết kế những trụ sở uỷ ban, chòi thông tin, nhà ở đơn giản… hoặc lớn hơn chút ít như Hội trường họp Đại hội Đảng và khu Giao tế Trung ương.

Về tại Thú đô sau ngày giải phóng 1954, nhiệm vụ cúa người kiến trúc sư nặng nề hơn, việc nhiều mà người ít. Những trường học lớn, những cơ quan, nhà bảo tàng, bệnh viện… lúc đó đã là những biểu tượng cho chế độ mới, chúng đồ sộ, rộng rãi, trong sáng, tuy đôi lúc hơi đơn giản.

Những “bậc tiên chỉ” của nền kiến trúc Việt Nam lúc này có Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Ninh, Đoàn Vãn Minh V. V… ít hơn vài tuổi, cũng thuộc “bậc tiên chỉ” nhưng ngồi xa “chiếu giữa” một tý có Tạ Mỹ Duật, Đoàn Ngọ, Nguyễn Ngọc Ngoạn…

Đội ngũ kiến trúc sư Việt Nam 1954 - 1986 1

Tổng cục Thống kê. KTS. Đoàn Văn Minh (Ảnh minh họa)