Chủ nghĩa Giải toả kết cấu trong nghệ thuật và kiến trúc

Chúng ta đã không chí một lần nhắc đến thuật ngữ “Sau hiện đại” hay “Kiến trúc sau trào lưu hiện đại” (Architecture After Modernism) để nói về các xu hướng kiến trúc phát triển từ nhũng năm 1970. Đó là kiến trúc Hậu hiện đại (Post Modernism), phái Công nghệ cao (High-Tech), kiến trúc Giải toả kết cấu (Deconstruction) và kiến trúc Hiện đại mới (Neo-Modernism).

Đúng là Chủ nghĩa Giải toả kết cấu trong nghệ thuật và kiến trúc trong một thời gian nhất định cũng đã đột phá và trở thành một đối trọng của nghệ thuật và kiến trúc mới.

Nhưng thật ra, những kiến trúc sư Giải toả kết cấu chứ nghĩa, cũng như kiến trúc sư phái Công nghệ cao, cũng không phải là không có những mối liên hệ tương đồng nhất định với kiến trúc hiện đại mới.

Xem xét nguồn gốc sâu xa của chủ nghĩa Giải toả trong kiến trúc, với những đóng góp quan trọng của các kiến trúc sư Peter Eisenman, Bernard Tshumi và Frank o. Gehry, ta không thê không nhắc đến những tư tướng triết học Giải toả kết cấu của Nhà triết học Pháp Jacques Derrida và nhắc đến quan điểm của nhũng nhà Kết cấu chủ nghĩa.

Tư tướng của Chủ nghĩa kết cấu trên diễn đàn triết học thế kỷ XX vốn có ánh hưởng lớn lao. Đó là một cách nhận thức sự vật và phương pháp luận nghiên cứu sự vật theo quan niệm: “Phương thức tổ chức và phương thức liên kết các yếu tố của sự vật luôn luôn có tính hệ thống và tính tương đối ổn định”, “Hai yếu tố trở lên kết hợp và tổ chức lại theo một phương thức nhất định, cấu thành một chỉnh thể của một hệ thống, mối quan hệ xác định của hai yếu tô’ đó chính là kết cấu”.

Về khái niệm cấu trúc này, vào thời gian tiếp theo ta lấy ví dụ trong Văn học chang hạn, cũng giống như sự phát triển của sự vật, theo một số nhà nghiên cứu thì sẽ không ngừng phát triển mà không cố định, dẫm chân tại chỗ. Cụ thể hơn. ta có thế hiểu như sau: mỗi một độc giả có một cách lý giải và cám nhận một tác phẩm văn học khác nhau, kết cấu của tác phám trong quá trình duvệt đọc của độc giá sẽ trớ thành một “đồ vật” vận động và biến hoá không ngừng, và “kết cấu im lặng” của “tác phấm sẽ biến mất”, tù đó xuất hiện thuật ngữ “Hậu kết cấu chủ nghĩa”.

Jacques Derrida (1930 ~) đầu tiên vốn là một Nhà Kết cấu chú nghĩa tiêu biếu, sau này theo thời gian lại trở thành Nhà Giải toá kết cấu chu nghĩa (Deconstructionvist). Ta lưu ý là chữ De trong Deconstruction còn có thê dịch là “nghịch” trong một số trường hợp.

Quan niệm “cần hoài nghi”, “cần chất vấn” của Derrida đã thu hút được một đám đỏng người nghe và người xem, họ tán thướng việc “đánh dấu hỏi” với các khái niệm “chân lý”, “tư tưởng”, “lý tính”, “ý nghĩa”.

Năm 1966. Derrida công bố bản Luận vãn “Cấu trúc, ký hiệu và cách chơi trong ngữ thoại của khoa học nhân văn”, năm 1967, tiếp tục công bố ba cuốn trước tác: “Bàn về Văn tự học”, “Văn tự và sự khác biệt” và “Ngôn ngữ và hiện tượng”. Theo Derrida, bản thân ngôn ngữ là “không xác định”, “không đáng tin”, kiêu như “thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”, và ông đã “cự tuyệt” truyền thống văn hoá phương Tây.

Chủ nghĩa Giải toả kết cấu trong giới văn hoá phương Tây bắt đầu thấm nhuần vào văn học. xã hội học, luân lý học và chính trị học.

Đồng thời, ngọn gió Giải toả kết cấu chủ nghĩa thổi qua và phần nào thức tỉnh những tư duy mới mà một bộ phận của nền kiến trúc thập niên 1970. 1980 đang cần tìm kiếm.